Câu chuyện Bồ công anh |

DS Phan Đức Bình
|
TS Trần Việt Hưng, DS Lê Văn Nhân, DS Mai Tâm
(tiếp theo kỳ trước)
ĐẶC TÍNH THỰC VẬT VÀ DINH DƯỠNG:
Bồ công anh còn gọi Bồ công anh thấp, Sư nha, Bồ công anh Trung Quốc (Taraxacum officinale hoặc Taraxacum mongolicum), tránh lầm với Bồ công anh VN (Lactuca indica), cùng thuộc họ Cúc (Asteraceae). Cỏ đa niên nhờ rễ phù to dưới đất chứ không có thân. Lá chụm xoay tròn quanh gốc sát đất. Phiến lá láng, xẻ thùy sâu, hình răng nên còn gọi là Sư nha (Dent-de-lion). Hoa hình đầu, màu vàng tươi trông cũng đẹp. Hoa kết trái, khi già chín thì biến thành một trái cầu lông trắng tròn, óng ánh trông cũng rất đẹp (xem hình) và khi trái khô, gặp gió sẽ bung ra bay khắp nơi nhờ hột có chùm lông bờm trắng.
Hoa bồ công anh là nguyên liệu để làm một loại bia dân gian ở Canada hay cũng có thể làm thành một loại rượu chát đồng quê gọi là rượu chát Bồ công anh (Dandelion wine).
Lá bồ công anh có nhiều chất bổ dưỡng, gần gấp đôi rau Xà lách (xem bảng)
Người Pháp và người Nam Mỹ ăn lá Bồ công anh non khi còn màu xanh lục (hơi đắng) vì lá già ăn đắng. Họ ăn một mình lá Bồ công anh hay trộn với các rau khác thành món xà lách.
Rễ Bồ công anh đem rang và xay dùng thế cà phê (không cafein).
Câu chuyện chữa được nút ruồi nghi ngờ thư da làm chúng tôi giật mình vì chưa bao giờ nghe đến tính chất này, nên phải đi tìm trong các sách dược thảo và các trang web của Viện y khoa quốc gia Hoa-kỳ. Điều cần chú ý là trong khi Trung quốc dùng lá làm dược liệu thì người Âu châu lại thích dùng rễ và cho các hoạt chất trị liệu có nhiều trong thân rễ hơn.
Thành phần hóa học:
Sesquiterpen có trong lá và rễ và có tính lợi tiểu, giải độc. Chất này cũng làm nhuận mật. Commission E của Đức công nhận chỉ định của Bồ công anh là thuốc lợi tiểu, bổ gan, nhuận mật. Điều cần chú ý là cao cồn làm nhuận mật trong khi cao nước lại không có tính này. Sự khác biệt này được giải thích là rễ cây tươi có chứa inulin tan trong cồn (alcohol), trong khi rễ già và phơi khô inulin cứng lại, không hòa tan trong nước, do đó mất tính nhuận mật. Inulin cũng có tính hạ đường huyết.
Tác dụng của Bồ công anh cũng tùy thuộc mùa thu hoạch, muốn trị bệnh gan hay giúp tiêu hóa, nên thu hoạch trong tháng 10 và 11, khi ngọn ngừng phát triển, và inulin sẽ có nhiều trong rễ cùng với các chất đường khác. Đến mùa xuân, cây ra lá nên rễ nhỏ đi, chứa ít inulin, nhưng lại có nhiều taraxacin và các hoạt chất dạng tan trong nước, nên tác dụng lợi tiểu giải độc sẽ mạnh hơn.
Các nghiên cứu được nêu trong thư viện y khoa Hoa Kỳ thu thập:
1. Mủ của rễ Bồ công anh chứa serine proteinase, taraxalisin (cao nhất trong tháng 4 dương lịch), thủy phân peptid Gly-ala-Ala-Leu-Phe tối ưu ở pH 8). Đặc tính giống cucumisin và macruralisin. Gốc N tận cùng tương tự subtilisin (Rudenskaya 1998).
2. Cấy tinh thể vảy màu đỏ chiết từ Bồ công anh trên dĩa cấy môi trường giàu cytokinin và ánh sáng tạo ra màu anthocyanin, phân chất là cyanidin 3-(6-malonylglucosid) và có tính chalcone synthase. (Akashi 1997).
3. Luteolin 7-glucosid và chrysoeriol được cô lập từ bồ công anh. Các acid hydroxycinnamic, chicoric, monocaffeyltartaric và chlorogenic được tìm thấy trên toàn cây bồ công anh và coumarin, cichoriin và aesculin trong dịch chiết của lá bồ công anh. (Williams 1996).
4.- Chất gây dị ứng khi tiếp xúc với Bồ công anh là acid taraxinic 1-o-betađ-glucopyranoside. (Hausen 1982).
5.- Fructofuranosidase trong rễ Bồ công anh. (Rutherford 1972).
DƯỢC TÍNH:
a.- Lợi tiểu:
Thử nghiệm trên chuột, cao lá bồ công anh có tác dụng lợi tiểu tương đương với Furosemid. Tác dụng này làm động vật giảm cân 100%.
b.- Nhuận gan:
Nhuận mật, nghiên cứu ở Đức cho thấy cao lá Bồ công anh tăng lưu lượng mật 40% ở chuột. Nghiên cứu ở Pháp dùng nước sắc rễ Bồ công anh cho chó uống tăng gấp đôi lưu lượng mật.
c.- Giúp tiêu hóa và ăn ngon cơm:
Hai cuộc nghiên cứu ở Trung Quốc trên động vật bị loét dạ dày, dạ dày tăng sản (hyperplasia) hay dị sản (metaplasia), bài thuốc có Bồ công anh làm mô chóng lành.
Công thức bài thuốc gồm:
- Bồ công anh (Taraxacum officinale)
- Thổ phục linh (Smilax glabra)
- Bạch hoa xà thiệt thảo (Hedyotis diffusa)
- Tô mộc tức gỗ Vang (Caesalpinia sappan)
- Bạïch thược (Paeonia alba)
- Hương phụ tức Cỏ cú (Cyperus rotundus)
- Bạch cập (Bletilla strata)
- Cam thảo bắc (Glycyrrhiza uralensis)
d.- Nhuận trường:
Một nghiên cứu dùng bài thuốc có Bồ công anh cho 24 người lớn bị viêm ruột già kinh niên, đã cải thiện các chứng táo bón, tiêu chảy, ruột quặn thắt ở 96%.
e.- Chữa viêm gan B:
Trung Quốc dùng bài thuốc có Bồ công anh để chữa viêm gan siêu vi B. Một báo cáo cho biết hữu hiệu khi chữa 96 người lớn bị viêm gan siêu vi B. Nghiên cứu này thực hiện ở viện y học cổ truyền Bắc Kinh, các bệnh nhân đều xét nghiệm có chứa kháng nguyên siêu vi B và cả thử HBV-DNA.
... mời bạn mua nguyệt san đọc tiếp ...